Thông tin mới nhất







Thống kê truy cập
  • Đang online: 34
  • Hôm nay: 3546
  • Trong tuần: 41 398
  • Tất cả: 5730165
  • Tất cả: 8076
Đăng nhập
Lượt xem: 242

Tăng huyết áp nguyên nhân và cách phòng tránh

Huyết áp là áp suất động mạch được tạo bởi sức đẩy của tim và sức ép của thành động mạch. Theo Tổ chức Y tế thế giới chẩn đoán tăng huyết áp khi trị số trung bình qua ít nhất 2 lần đo của huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) lớn hơn  hoặc bằng 140mmHg và trị số trung bình của huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg được xem là Tăng huyết áp. Đối với người già, tăng huyết áp phổ biến là tăng huyết áp tối đa đơn thuần tức là chỉ số huyết áp tối đa lớn hơn 160mmHg nhưng huyết áp tối thiểu nhỏ hơn 90mmHg.

Kiểm tra huyết áp thường xuyên là biện pháp quan trọng để phát hiện sớm tăng huyết áp. Ảnh: Trọng Thụ

Tăng huyết áp được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”. Tăng huyết áp là một vấn đề thường gặp trong cộng đồng, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và dẫn đến cái chết của hàng triệu người hàng năm, đồng thời là nguyên nhân gây suy tim, đột quỵ não và nguyên nhân thứ 2 gây nhồi máu cơ tim cấp.

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, tăng huyết áp (THA) ảnh hưởng đến sức khỏe của gần 1,3 tỷ người trên phạm vi toàn cầu.

Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra mới nhất của Bộ Y tế cho thấy có 25% dân số mắc bệnh về tim mạch và tăng huyết áp. Gần 60% người bị tăng huyết áp ở Việt Nam chưa được phát hiện và hơn 80% chưa được điều trị. Mỗi năm Việt Nam ghi nhận thêm khoảng 200 nghìn ca đột quỵ mới, 80% trong đó là người bị tăng huyết áp. Đặc biệt trong những năm gần đây, bệnh tăng huyết áp có xu hướng trẻ hóa, ghi nhận ở những bệnh nhân còn trẻ ở độ tuổi 30 - 40 tuổi

Tăng huyết áp là hội chứng tim mạch, khi huyết áp tối đa ( huyết áp tâm thu)/ huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) đo được lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg/90mmHg. Cách duy nhất để biết có bị huyết áp cao hay không là đo huyết áp, có thể đến bệnh viện đo hoặc mua máy đo tự động tại nhà. Người trưởng thành có huyết áp bình thường nên kiểm tra huyết áp mỗi năm một lần. Những người có yếu tố nguy cơ như: bệnh nhân đái tháo đường, người thừa cân, béo phì... cần đo huyết áp thường xuyên hơn, khoảng 6 tháng/lần. Người từ 40 tuổi trở lên, nên đo huyết áp 2 - 3 tháng/lần. Người có biểu hiện của tăng huyết áp cần phải kiểm tra huyết áp thường xuyên, khoảng 1 - 2 lần/tháng. Ngoài ra, cần kiểm tra định kỳ hàng năm các yếu tố nguy cơ: xét nghiệm kiểm tra đường máu, cholesterol máu, chức năng thận, điện tâm đồ.

Dấu hiệu cảnh báo tăng huyết áp

Tăng huyết áp không có dấu hiệu đặc trưng, các triệu chứng nặng nhẹ khác nhau, biểu hiện tùy thuộc theo tình trạng từng người. Những dấu hiệu hay gặp của Tăng huyết áp là: nhức đầu, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, khó thở, hồi hộp, đỏ mặt, buồn nôn.

Tuy nhiên có một số người tăng huyết áp không có triệu chứng gì, hoặc các triệu chứng kể trên chỉ xuất hiện khi bệnh đã tiến triển nặng. Chính vì vậy Tăng huyết áp được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.

Một số yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp

1.Tuổi: nguy cơ tăng huyết áp tăng cùng với tuổi, nhất là ở người từ 45 tuổi trở lên.

2. Thừa cân béo phì: người thừa cân BMI 23, nam vòng bụng 90, nữ vòng bụng 80cm.

3. Sử dụng rượu bia, thuốc lá làm tăng huyết áp và gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch do tăng huyết áp.

4. Ăn nhiều muối, ít hoa quả.

5. Ít hoạt động thể lực.

6. Căng thẳng tâm lý.

7. Mắc các bệnh mạn tính như: bệnh thận, đái tháo đường, rối loạn lipit máu...

8.Tiền sử bệnh trong gia đình: nguy cơ tăng huyết áp gia tăng nếu trong gia đình đã có người bị tăng huyết áp.

Trong các yếu tố nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp thì tuổi cao, tiểu đường, béo phì được coi là 3 tâm điểm gây bệnh tăng huyết áp. Tuổi càng cao, thành động mạch bị lão hoá và xơ vữa, làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn. Vì thế, huyết áp tâm thu tăng cao hơn. Khoa học cũng đã chứng minh, tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường mắc bệnh tăng huyết áp cao gấp đôi những người không bị tiểu đường. Khi nhiễm cả 2 bệnh trên sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu và nguy cơ tử vong so với bệnh nhân tăng huyết áp đơn thuần. Với người thừa cân, béo phì cũng làm tăng nhanh huyết áp vì cân nặng có quan hệ khá tương đồng với bệnh tăng huyết áp.

Ngoài ra, rối loạn lipid máu, hút thuốc, ăn mặn, uống nhiều rượu bia, ít vận động, căng thẳng, lo âu quá mức hay tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp cũng là những yếu tố nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp.

Tăng huyết áp có nguy hiểm không? Tại sao?

Tăng huyết áp thường diễn biến âm thầm và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan bộ phận cơ thể của bạn và bằng nhiều cách. Tăng huyết áp làm tăng gánh nặng cho tim và hệ thống động mạch. Tim của phải làm việc nặng hơn trong một thời gian dài, nên nó có xu hướng to ra. Tim cũng phải giãn ra và thành tim bị dày lên để bù lại, nhưng nếu quá trình này diễn biến lâu ngày quá giới hạn sẽ dẫn đến suy tim.

Tăng huyết áp cũng thúc đẩy và gây ra xơ vữa động mạch. Đây là một bệnh lý nguy hiểm dẫn tới nhiều biến chứng tim mạch (như tai biến mạch não; nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành mạn tính, bệnh động mạch chủ hoặc động mạch ngoại vi …).

Bên cạnh đó, tăng huyết áp còn có thể làm tổn thương thận và mắt. Các nghiên cứu cho thấy: người bị tăng huyết áp không được kiểm soát thì nguy cơ: Bệnh động mạch vành tăng gấp 3 lần; Suy tim tăng 6 lần; Đột quỵ tăng 7 lần… Các biến chứng gây ra tăng huyết áp có thể cấp tính, có thể âm thầm và do vậy không những nguy hiểm đe dọa tính mạng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của bạn.

Dự phòng Tăng huyết áp và điều trị tăng huyết áp

1. Kiểm tra huyết áp thường xuyên là biện pháp quan trọng để phát hiện sớm tăng huyết áp. Mọi người dân cần thường xuyên kiểm tra huyết áp thông qua khám sức khỏe định kỳ hoặc qua các lần đi khám, kiểm tra sức khỏe tại các cơ sở y tế.

2. Chế độ ăn hợp lý: Giảm ăn mặn (dưới 5g muối/ ngày), tăng cường ăn rau xanh hoa quả tươi, hạn chế thức ăn có nhiều Cholesterol và axit béo no, đảm bảo đủ Kali và các yếu tố vi lượng.

3. Duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối của cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 22,9, duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ. Tích cực giảm cân (nếu quá cân).

4. Hạn chế uống rượu bia, không hút thuốc lá hoặc thuốc lào.

5. Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp, tập thể dục, đi bộ, đi xe đạp hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày.

6. Tránh lo âu căng thẳng thần kinh, cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý, tránh bị lạnh đột ngột.

Bên cạnh áp dụng các biện pháp tích cực thay đổi lối sống như trên, những bệnh nhân bị tăng huyết áp cần được theo dõi, quản lý bệnh lâu dài và điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc để giảm bớt các nguy cơ xảy ra biến chứng và duy trì mức huyết áp hợp lý.

Bảo An

ipv6 ready